Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016

Xin tư vấn về quyền được xác nhận tạm trú trên địa bàn phường

Xin tư vấn về quyền được xác nhận tạm trú trên địa bàn phường

Cập nhật cách đây khoảng 20 tiếng | Số lượt đọc: 74
Tôi là giáo viên dạy nghề của một trường cao đẳng trên địa bàn TPHCM. Thời gian công tác cũng gần 5 năm. Do cần vay vốn nên tôi có làm hồ sơ vay bên phía ngân hàng. Trong hồ sơ có yêu cầu về giấy Xác Nhận Tạm Trú tại nơi tôi cư trú hiện tại. Từ lúc tôi tạm trú ở địa chỉ hiện tại cũng gần một năm rồi, chủ nhà có khai báo và đăng ký cho tôi hoàn toàn hợp lệ.

Bài viết cùng chủ đề

  • Tư vấn vay tín chấp
  • Về mức lệ phí đăng ký thường trú, tạm trú
  • Trách nhiệm nếu không hoàn trả được tài sản khi vay tín chấp
 Nhưng khi tôi ra công an phường để đưa giấy xin xác nhận tạm trú, thì họ từ chối xác nhận tạm trú vì mục đích của tôi là vay tín chấp. Tôi rất bức xúc vì rõ ràng công an là người quản lý về vấn đề cư trú của tôi nhưng lại không thực thi quyền được xác nhận tạm trú của tôi khi tôi không làm gì phạm pháp cả. Xin công ty luật Minh Gia giúp tôi những thắc mắc:

1. Công an phường từ chối xác nhận việc tạm trú của tôi vì mục đích vay vốn như vậy có đúng quy định pháp luật không? Luật có quy định rõ việc không xác nhận tạm trú đối với trường hợp người dân cần thông tin về cư trú để bổ sung hồ sơ vay vốn của ngân hàng không?

2. Tôi phải làm gì để đảm bảo được quyền lợi chính đáng của mình đó là việc được xác nhận tạm trú?

Trả lời, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia về câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Một trong các hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong Luật cư trú 2006 đó là :

"6. Cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật."

Như vậy việc bạn đến cơ quan Công an nơi bạn đang tạm trú để xin xác nhận tạm trú mà họ từ chối là trái với quy định của pháp luật, đồng thời Luật cũng không quy định về vấn đề này. Bạn có thể gửi khiếu nại của mình đến cơ quan có thẩm quyền nơi bạn đang tạm trú để họ giải quyết.  Về vấn đề này tại Điều 39 có quy định như sau:
Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
1. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
2. Người nào vi phạm quy định của pháp luật về cư trú thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật."

Bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến cơ quan Công an nơi bạn đăng kí tạm trú để họ giải quyết cho bạn.

Trân trọng!

Hỏi tư vấn về thỏa thuận phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài

Hỏi tư vấn về thỏa thuận phân chia tài sản có yếu tố nước ngoài

Cập nhật cách đây khoảng 17 tiếng | Số lượt đọc: 63
Xin chào Luật Sư, Cha mẹ tôi sau khi bán nhà có làm bản Phân Chia Tài Sản (tạm gọi PCTS), trong bản PCTS này chỉ ghi tên con ruột (không có ghi tên con rể/dâu) là những người được thừa hưởng tài sản từ việc bán nhà; bản PCTS được ký trước mặt luật sư; cha mẹ tôi vẫn còn sống.

Bài viết cùng chủ đề

  • Người chồng tự ý định đoạt tài sản chung của vợ chồng có được không?
  • Luật sư tư vấn về hiệu lực của hợp đồng cho tặng tài sản
  • Xác định và phân chia tài sản chung vợ chồng
Nội dung tư vấn:

Xin chào Luật Sư, Cha mẹ tôi sau khi bán nhà có làm bản Phân Chia Tài Sản (tạm gọi PCTS), trong bản PCTS này chỉ ghi tên con ruột (không có ghi tên con rể/dâu) là những người được thừa hưởng tài sản từ việc bán nhà; bản PCTS được ký trước mặt luật sư; cha mẹ tôi vẫn còn sống. Tôi có các câu hỏi sau:

 1. Đối với các người con đã có gia đình trước khi có bản PCTS thì tài sản được thừa hưởng từ cha mẹ ruột theo bản PCTS này được tính là tài sản chung của hai vợ chồng người con hay tài sản riêng của người con ruột?

 2. Nếu người con đã có gia đình trước khi có bản PCTS (và người này đang sống tại nước ngoài) muốn từ chối nhận tài sản theo bản PCTS thì phải làm sao?

3. Hoặc nếu người này muốn ủy quyền số tài sản (mà người này thừa hưởng theo bản PCTS) lại cho một trong số các anh/chị/em ruột tại Việt Nam thì phải làm sao?

4. Trong cả hai trường hợp 2 và 3, người này có quyền tự đứng tên trên các giấy tờ này mà không cần phải có tên vợ/chồng được không?

Tôi xin nhờ Luật sư tư vấn giúp giùm. Tôi xin cám ơn và kính chào.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia chúng tôi. Về trường hợp của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Câu 1:

Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, cha mẹ bạn có làm bản PCTS chỉ ghi tên con ruột là những người được hưởng tài sản từ việc bán nhà. Những người con ruột là những người được tặng cho riêng tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, tài sản này được coi là tài sản riêng của người con ruột.

Câu 2:

Theo thông tin bạn cung cấp thì người con này đang sinh sống tại nước ngoài muốn từ chối nhận tài sản theo bản PCTS. Do đó, trường hợp của bạn thuộc vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.


Điều 766 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định về quyền sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài như sau:

“1. Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trử trường hợp quy định tại Khoản 2 và Khoản 4 Điều này”.

Pháp luật Việt Nam quy định việc xác lập quyền sở hữu tài sản trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật nơi có tài sản. Theo đó, pháp luật được áp dụng trong trường hợp của bạn là pháp luật Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2005 thì: “ Hợp đồng tặng cho là sự thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù còn bên được tặng cho đồng ý nhận”.

Như vậy, trong hợp đồng tặng cho tài sản, một bên ( bên tặng cho) trao cho bên kia (bên được tặng cho) một khoản lợi ích vật chất ( tài sản tặng cho) mà không yêu cầu bên kia phải trao lại cho mình một lợi ích vật chất khác. Người nhận tài sản được tặng cho không phải trả cho bên đã tặng cho một khoản tiền hay một lợi ích vật chất nào.


Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế. Có nghĩa là dù hai bên đã có sự thỏa thuận cụ thể về đối tượng tặng cho, điều kiện và thời hạn giao tài sản tặng cho nhưng nếu bên tặng cho chưa giao tiền hoặc tài sản cho bên được tặng cho, thì hợp đồng tặng cho tài sản chưa được coi là xác lập.

Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa quy định về việc từ chối nhận tài sản được tặng cho. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, người con đang sinh sống ở nước ngoài có thể lập văn bản từ chối nhận tài sản. Sau đó, gửi văn bản từ chối này về Việt Nam cho những người được tặng cho tài sản còn lại. Việc lập văn bản từ chối nhận tài sản này có thể được tiến hành tại Việt Nam hoặc cơ quan lãnh sự Việt Nam tại nước ngoài. Văn bản từ chối này cần có công chứng theo quy định của pháp luật.

Câu 3:

Vì cha mẹ bạn đã làm thủ tục tặng cho tài sản nên nếu người con đang định cư ở nước ngoài không muốn nhận số tài sản này thì có thể làm hợp đồng tặng cho tài sản cho các anh, chị, em ở Việt Nam chứ không thể làm hợp đồng ủy quyền tài sản.

Điều 581 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về hợp đồng ủy quyền như sau:

“Điều 581. Hợp đồng uỷ quyền

Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Như vậy, nếu như người con định cư ở nước ngoài chỉ làm hợp đồng ủy quyền thì người được ủy quyền tại Việt Nam chỉ có thể thay mặt người ủy quyền làm thủ tục định đoạt tài sản được tặng cho thay cho mình. Việc ủy quyền này có thể được thực hiện tại cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước mà người đó đang sinh sống, như Đại sứ quán, Lãnh sự quán.

Việc tặng cho tài sản sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hợp đồng tặng cho tài sản phải được công chứng tại Văn phòng công chứng và có chữ ký của cả hai bên.

Câu 4:

Khoản 1 Điều 121 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2014 có quy định:

Điều 121. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”
 
Trường hợp người con đang định cư ở nước ngoài đã kết hôn được tặng cho riêng tài sản từ cha mẹ sinh sống ở Việt Nam thì tài sản này sẽ là tài sản được tặng cho riêng theo quy định tại Khoản 1 Điều 43: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Như vậy, vì là tài sản được tặng cho riêng nên trong trường hợp nêu trên người này có thể tự mình đứng tên trong các giấy tờ mà không cần có tên của vơ hoặc chồng.

Tư vấn việc chuyển nhượng nhà ở chưa hoàn công và quyền thừa kế tài sản

Tư vấn việc chuyển nhượng nhà ở chưa hoàn công và quyền thừa kế tài sản

Cập nhật cách đây khoảng 16 tiếng | Số lượt đọc: 80
Thưa luật sư bà nội em có 7 người con, ba em là thứ 4 , sau khi bà nội em mất, nhà có đi làm giấy thừa kế di sản cho 7 người con năm 2014. Nhưng bà nội có ký giấy công chứng ở phường cho ba em 1 phần của miếng đất, có ghi diện tích (năm 2004)
Bà nội em có ký giấy phép xây dựng để ba em xây nhà, nhưng chưa hoàn công và chưa có sổ đỏ và số nhà ( chỉ có hộ khẩu ghép tách ra từ hộ khẩu chính ). Nay ba em muốn tách ra làm sổ đỏ, số nhà và đứng tên căn nhà mà bà nội cho. Trong nhà thì ai cũng đồng ý ký giấy nhưng có 1 người em của ba em là không chịu mà đòi bán hết rồi chia ra. (Ba và mẹ em lấy nhau năm 1989 và có 3 người con). Thưa luật sư cho em hỏi:
- Nếu căn nhà của ba em không hoàn công thì toàn bộ miếng đất có bán được không và nếu có bán là bán luôn căn nhà của ba em không ạ.
- Nếu Trường hợp ba em mất đột ngột (bệnh) thì vợ và con có được chia tài sản theo quy định không ạ.
- Và mẹ e có quyền thay ba e ký tên để không bán miếng đất không ạ. Kính gửi quý luật sư! mong được nhận hồi âm sớm nhất.

Trả lời: cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Nếu căn nhà trên không hoàn công thì toàn bộ miếng đất có bán được không và nếu có bán là bán luôn căn nhà không.

Trong trường hợp này, bạn nên tiến hành làm hoàn công căn nhà đó rồi mới chuyển nhượng cho người khác.

Theo quy định của Luật Nhà ở 2014, nhà ở phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu, là điều kiện tiên quyết để các bên thực hiện các giao dịch về nhà ở. Do vậy, chủ cũ buộc phải thực hiện thủ tục hoàn công, hoàn tất thủ tục sở hữu nhà ở trước khi bán. Khi đó người mua mới có cơ sở pháp lý để được công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở. Khi người mua mua nhà chưa hoàn công nhà thì chỉ được đứng tên trên sổ đỏ, tức là chỉ mua đất, phần nhà vẫn là của chủ cũ vì: Khi muốn hoàn công người phải nhờ chủ cũ đứng ra hoàn công vì khi giấy phép xây dựng vẫn tên chủ cũ (giấy phép xây dựng chỉ được cấp mới với tên người mua khi chủ cũ đã hoàn công).

Khi ba bạn mất, thì vợ và con có được chia tài sản theo quy định không.

Theo BLDS 2005 thì cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại Điều 643 BLDS 2005 có quy định về những người không được  quyền hưởng di sản:

Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy khi cha bạn đột nghột mất thì vợ và con sẽ được quyền hưởng di sản, trừ những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 643 BLDS 2005. Tuy nhiên nếu như thuộc vào những trường hợp đó, cá nhân vẫn có thể được hưởng di sản nếu người để lại di sản vẫn cho cá nhân đó hưởng di sản trong di chúc.

Mẹ bạn có quyền kí thay ba bạn để bán miếng đất trên không.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, thì khi bà nội bạn mất và nhà có đi làm giấy thừa kế cho 7 người con, và năm 2004 bà nội có kí công chứng cho cha bạn một mảnh đất, vì vậy nên đây là tài sản riêng của cha bạn, không phải là tài sản chung của vợ chồng, vì vậy việc định đoạt tài sản phải do chủ sở hữu quyết định. Tuy nhiên căn cứ vào Điều 198 BLDS 2005 thì người không phải chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản không phải của mình khi được chủ sở hữu uỷ quyền.

Điều 198. Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Người được chủ sở hữu uỷ quyền định đoạt tài sản phải thực hiện việc định đoạt phù hợp với ý chí, lợi ích của chủ sở hữu.

Vậy nếu như không được cha bạn uỷ quyền thì mẹ bạn không được thay mặt ba bạn kí tên để bán miếng đất đó, vì miếng đất đó là tài sản riêng của ba bạn được thừa kế riêng, tặng cho riêng.

Trân trọng!!

Hỏi cách chia di sản thừa kế theo pháp luật

Hỏi cách chia di sản thừa kế theo pháp luật

Cập nhật cách đây khoảng 15 tiếng | Số lượt đọc: 74
Xin hỏi luật sư: Gia đình tôi có 7 anh chị em 6 người khác đã có gia đình và ở riêng tôi cũng lập gia đình và ở riêng nhưng vẫn chung hộ khẩu với bố mẹ tôi.

Nội dung tư vấn:

Xin hỏi luật sư: Gia đình tôi có 7 anh chị em 6 người khác đã có gia đình và ở riêng tôi cũng lập gia đình và ở riêng nhưng vẫn chung hộ khẩu với bố mẹ tôi. Năm 2016 bố,  mẹ tôi đều đã chết không để lại di chúc gì. Số đất canh tác của bố mẹ tôi để lại là 1400m2, đất thổ cư là 270m2, đất ao là 360m2(đều có sổ đỏ). Tôi có quyền được sử dụng toàn bộ số đất trên không? Nếu các anh em tôi đòi chia thì chia như thế nào, ai là người có quyền đứng ra chia? Các chị em gái tôi có được chia số tài sản mà bố mẹ tôi đã để lại không? Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia chúng tôi. Về trường hợp của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điểm a Khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;...”

 Theo đó, trường hợp của bạn bố, mẹ bạn chết không lập di chúc. Do đó, tài sản của bố mẹ bạn sẽ được chia theo pháp luật.

Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, trong trường hợp này cả 7 anh chị em của bạn đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất không phân biệt là con gái hay con trai, con đẻ hay con nuôi. Bạn không được quyền sử dụng toàn bộ số đất nói trên, cả 7 người đều được hưởng phần di sản bằng nhau, cụ thể:

Diện tích đất canh tác mà mỗi người được hưởng là: 1400m2 : 7 = 200m2

Diện tích đất thổ cư mỗi người được hưởng là: 270m2 : 7 = 38,57m2

Diện tích đất ao mỗi người được hưởng là: 360m2 : 7 = 51,43m2.

Điều 682 BLDS 2005 quy định về người phân chia di sản như sau:

“Điều 682. Người phân chia di sản

1. Người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thoả thuận cử ra.

2. Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thoả thuận của những người thừa kế theo pháp luật.

3. Người phân chia di sản được hưởng thù lao, nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thoả thuận.”


Như vậy, 7 anh chị em nhà bạn có thể thỏa thuận cử người phân chia di sản. Người phân chia di sản này phải chia đúng theo quy định pháp luật. Nếu các bạn thỏa thuận có trả thù lao cho người phân chia di sản thì họ phải được hưởng thù lao như đã thỏa thuận.


Trân trọng!

Thắc mắc về chuyển đổi giới tính và thay đổi họ tên, thông tin cá nhân

Thắc mắc về chuyển đổi giới tính và thay đổi họ tên, thông tin cá nhân

Cập nhật cách đây một ngày | Số lượt đọc: 71
Luật sư tư vấn về thủ tục chuyển đổi tên và giới tính theo quy định của pháp luật

Bài viết cùng chủ đề

  • Thắc mắc về chuyển đổi giới tính và thay đổi họ tên, thông tin cá nhân
  • Thủ tục thay đổi họ tên trong CMTND, làm lại giấy khai sinh
  • Tư vấn thay đổi họ, tên và hậu quả pháp lý liên quan

Kính chào công ty luật Minh Gia, Tôi có thắc mắc về việc thay đổi tên và giới tính của bản thân trên giấy tờ. Theo như tôi được biết, luật Dân sự (sửa đổi) năm 2015 đã thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính, và đó là một bước ngoặc lớn trong cộng đồng LGBT. Nhưng cũng đồng thời còn mập mờ về việc có thực sự cho phép hay không và cơ quan chức năng nào có thẩm quyền thực hiện điều đó. Tôi là người chuyển giới từ nữ sang nam và hiện đang du học tại C... Đã sử dụng hoocmon nam được một năm và đang trong danh sách chờ phẫu thuật ngực. Tôi chưa qua phẫu thuật bộ phận sinh dục. Toàn bộ quá trình chuyển giới tôi thực hiện ở C... Quay lại với câu hỏi của mình, liệu tôi đã có thể quay về Việt Nam để làm thủ tục chuyển đổi tên và giới tính của mình được hay chưa? Vì hiện tại tôi đang gặp khó khăn trong các vấn đề nhận dạng liên quan đến giới tính trên giấy tờ và giới tính hiện hữu. Chân thành cảm ơn công ty. Chúc công ty gặp được nhiều thuận lợi!

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia chúng tôi, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Đến 01/01/2017 Bộ luật Dân sự 2015 mới chính thức có hiệu lực, do vậy chưa có nhiều hướng dẫn về vấn đề này, chúng tôi chỉ tư vấn cho bạn dựa trên những quy định của pháp luật đã có, Điều 37 BLDS 2015 quy định như sau:

Điều 37. Chuyển đổi giới tính

Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan

Hiện tại vẫn chưa có quy định rõ thế nào là "đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính"? Phẫu thuật toàn phần hay một phần. Tại nhiều nước trên thế giới, một người được chứng nhận là "người chuyển giới" sau khi trải qua quá trình tư vấn tâm sinh lý cũng như sử dụng hoocmôn liên tục trong ít nhất 12 tháng. Do vậy, trường hợp của bạn chưa được thay đổi tên và giới tính ngay mà phải hoàn tất quá trình chuyển đổi giới tính. Sau khi hoàn tất quá trình chuyển đổi, bạn có quyền về Việt Nam để làm thủ tục thay giới tính theo pháp luật hộ tịch và thay đổi tên theo điểm e khoản 1 Điều 28 Bộ luật dân sự 2015 :

Điều 28 : Quyền thay đổi tên :

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:

...

e) Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;…”


Như vậy, phải đến 01/01/2017 thì Bộ luật Dân sự (sửa đổi) mới chính thức có hiệu lực. Từ đây đến đó sẽ có nhiều hướng dẫn chi tiết về việc này. Các bạn nên theo dõi thường xuyên trên các phương tiện truyền thông.

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo Bộ luật dân sự 2005 và 2015

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo Bộ luật dân sự 2005 và 2015

Cập nhật cách đây một ngày | Số lượt đọc: 90
Bố mẹ tôi có 2 người con là tôi và em trai. Khi tôi lấy vợ thì ra ở riêng và ở đất nhà vợ, bố mẹ và em trai tôi cũng ra ở cùng, còn thửa đất các cụ để lại cho bố mẹ đang ở thì để không.

Bài viết cùng chủ đề

  • Chia di sản khi hết thời hiệu thừa kế
  • Quy định về Thừa kế theo pháp luật
  • Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế?

Nội dung đề nghị tư vấn: Một thời gian sau nhà nước bán một lô đất trước cửa nhà tôi và bố mẹ tôi quyết định bán mảnh đất của các cụ để mua mảnh đất mới nhưng không đủ tiền và tôi phải thêm một nửa tiền vào để mua rồi cùng bàn với bố mẹ tôi là để làm vườn và sau này làm nhà thờ cúng. Khi em trai tôi lấy vợ do nhà tôi chật nên bố mẹ tôi làm một cái nhà cho em trai tôi ra ở riêng trên mảnh đất mới mua và bố mẹ tôi cũng ra ở cùng. Năm 2005 bố tôi mất đi, mẹ tôi thì già không đi lại được và đến năm 2008 mẹ tôi cũng mất. Sau đó em trai tôi bị bệnh và cũng mất. Nhưng gần đây tôi có bảo với em dâu là lấy lại một phần đất để xây nhà thờ thì em dâu tôi nói là bà đã viết di chúc để lại cho vợ chồng chú ấy( nhưng tôi chưa được nhìn thấy di chúc, chỉ có nghe nói là bà viết lại và đã ra uỷ ban chứng thực ). Vậy tôi viết mail này mong qúy ngài tư vấn giúp gia đình đòi lại quyền lợi của tôi. Và cần làm thủ tục gì để lấy lại một phần đất trên. Tôi xin chân thành cảm ơn quý ngài nhiều!

Trả lời tư vấn: Luật Minh Gia cảm ơn câu hỏi và đề nghị tư vấn của bạn. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 Nếu bạn có bằng chứng chứng minh được mình góp một nửa số tiền vào việc mua mảnh đất thì bạn có quyền kiện đòi tài sản (bằng chứng này có thể là giấy tờ thỏa thuận việc cùng góp tiền mua v.v) đồng thời khởi kiện chia thừa kế.

 Nếu bạn không có bằng chứng chứng minh việc bạn đã góp một nửa số tiền thì bạn vẫn có thể khởi kiện yêu cầu chia thừa kế. Khi đó, bạn cần xác định lại bản di chúc của mẹ bạn có hợp pháp hay không?

Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

 Đối với di chúc bằng văn bản thì chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp 1: Giả sử di chúc không hợp pháp thì bạn có thể khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản chung của cả bố mẹ bạn.

Trường hợp2: Di chúc hợp pháp thì bạn có thể khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản của bố bạn ( do bố bạn mất mà không để lại di chúc nên phần di sản của ông trong khối tài sản chung với mẹ bạn sẽ được chia theo pháp luật). Tuy nhiên, theo quy định tại điều 645 của bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Vì bố bạn đã mất từ năm 2005 nên đến thời điểm này thì bạn không có quyền khởi kiện tại thời điểm này. Do đó, bạn nên đợi đến khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 để khởi kiện.

Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế như sau:

 1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trân trọng!

Tư vấn giành quyền nuôi con sau ly hôn

Tư vấn giành quyền nuôi con sau ly hôn

Cập nhật cách đây khoảng 21 tiếng | Số lượt đọc: 80
Tôi và chồng tôi kết hôn được 5 năm và có 2 đứa con. Chồng tôi thường xuyên vắng nhà, giữa hai vợ chồng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và thường xuyên bất đồng quan điểm không thể dung hòa và cả hai đều nghĩ đến ly hôn. Tôi muốn luật sư giúp tôi làm thế nào để tôi được nuôi 2 đứa con của mình? Tôi là giáo viên tiểu học và mức lương của tôi là 6 triệu một tháng như vậy đã đủ điều kiện để được quyền nuôi con chưa thưa luật sư.

Bài viết cùng chủ đề

  • Giành quyền nuôi con sau ly hôn
  • Quyền nuôi con và điều kiện để giành quyền nuôi con
  • Những yếu tố quyết định đến quyền nuôi con trong ly hôn

Trả lời tư vấn: Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi của mình đến công ty Luật Minh Gia. Đối với câu hỏi của chị, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ theo điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

- Nếu vợ, chồng chị thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con thì tòa sẽ không phải ra quyết định;

- Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;

- Nếu con anh chị từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con;

- Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, ngoài các trường hợp con được giao cho mẹ trực tiếp như trên, chị cần chuẩn bị để chứng minh mình có thể bảo đảm tốt nhất quyền lợi về mọi mặt của con bao gồm: điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, học tập và cả những điều kiện về mặt tinh thần như việc chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục, vui chơi giải trí... Cùng với những căn cứ trên, chị nên đưa ra những căn cứ về việc người bố không quan tâm chăm sóc được con; bỏ mặc trách nhiệm nuôi dạy con cho chị; thường xuyên vắng nhà..., vì đây là những căn cứ có lợi cho chị khi Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi con. Với việc chị là giáo viên với mức thu nhập ổn định 6 triệu 1 tháng, có đầy đủ các điều kiện để nuôi dạy con và chồng chị không có điều kiện chăm sóc con như chị nói thì cơ hội để Tòa trao quyền nuôi con cho chị là rất cao.

Chúc chị vượt qua cơn sóng gió này và giành được quyền nuôi con. Để được tư vấn cụ thể hơn về việc thu thập chứng cứ, chứng cứ chứng minh giành quyền nuôi con, chị có thể liên lạc với số điện thoại tư vấn của công ty Luật Minh Gia để được tư vấn tốt nhất.

Trân trọng !

Tư vấn trường hợp khai sinh cho con có hai quốc tịch

Tư vấn trường hợp khai sinh cho con có hai quốc tịch

Cập nhật cách đây khoảng 4 tiếng | Số lượt đọc: 84
Tôi là cha của 2 cháu bé được sinh ở Mỹ, và đều có quốc tịch Mỹ theo qui định của luật khai sinh Hoa Kỳ.

Bài viết cùng chủ đề

  • Luật sư tư vấn về thủ tục làm hộ chiếu cho con dưới 14 tuổi.
  • Thông tư 02/2013/TT-BNG hướng dẫn việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm đề nghị cấp thị thực
  • Quy định về việc cấp hộ chiếu cho trẻ em

Hỏi: Đối với quốc tịch Việt nam, vì điều kiện khi đó tôi và bà xã chưa đăng ký kết hôn nên không muốn khai sinh không có tên cha và cũng được tư vấn khi liên hệ với Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hoa Kỳ họ nói theo luật song tịch về Việt Nam có thể khai sinh thoải mái vì vậy chúng tôi đã nhập cảnh các cháu bằng hộ chiếu Mỹ. Gần đây chúng tôi đã đi đăng ký kết hôn và khai sinh muộn cho 2 con ở quê ngoại các cháu tại HP và rồi cắt và nhập khẩu các cháu về Hà Nội. Có lưu ý là tên của các cháu ở VN tôi để gần giống tên khai sinh ở Mỹ chỉ không có tiếng Anh ví dụ tên ở nước ngoài là Davis M A Pham, thì ở VN tôi để là Phạm M A. Rắc rối xảy ra khi tôi đến Cục xuất nhập cảnh, để làm thêm hộ chiếu Việt Nam cho các cháu thì nhận được trả lời nhập cảnh bằng hộ chiếu nào thì xuất cảnh bằng hộ chiếu đó, thứ nữa là 2 tên khai sinh khác nhau nên "được coi" 2 người khác nhau. Trong trường hợp này họ nói cứ nuôi con như người nước ngoài và có thể làm thủ tục miễn visa hoặc thẻ thường trú. Tuy nhiên các anh chị thấy là các cháu đã có quốc tịch VN đầy đủ, thẻ thường trú có lẽ là để tiện cho việc xuất nhập cảnh bằng hộ chiếu Mỹ? Vậy tôi muốn xin tư vấn các anh chị Luật sư ở đây để tôi làm gì tốt nhất trong trường hợp này.

Trả lời: Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty, trường hợp của anh chúng tôi tư vấn như sau:

 Vì thông tin anh cung cấp không rõ ràng, nên chúng tôi tư vấn chung theo quy định của pháp luật hiện hành.

Theo thông tin anh cung cấp, các con của anh đã có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, do đó, các con của anh sẽ được coi là công dân Việt Nam. Khi đó, công dân Việt Nam muốn xuất cảnh thì phải tuân thủ theo pháp luật Việt Nam. Tại Điều 21 Nghị định 136/2007/NĐ-CP quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam quy định:

“Điều 21. Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.

3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.”


Theo đó, nếu công dân Việt Nam không thuộc một trong các trường hợp trên thì sẽ được phép xuất cảnh khi có các giấy tờ hợp pháp về việc xuất cảnh (hộ chiếu).

Đối với người nước ngoài có nhiều hộ chiếu thì về nguyên tắc khi nhập cảnh, xuất cảnh tại Việt Nam chỉ được sử dụng một hộ chiếu (Khoản 4 Điều 4 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014). Tuy nhiên, đối với người Việt Nam thì không có quy định chi tiết về vấn đề này. Theo đó, trường hợp của anh, có thể cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đang áp dụng trong trường hợp các con anh là người nước ngoài, anh có thể liên hệ với họ để giải thích rõ vấn đề này.

Mua bán nhà ở đang còn thời hạn cho thuê với bên thứ ba

Mua bán nhà ở đang còn thời hạn cho thuê với bên thứ ba

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 81
Cho tôi hỏi vào thời điểm đầu năm 2016 tôi có mua một ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của bà D. Nhưng ngôi nhà này bà D đang cho ông T thuê lại với hợp đồng 5 năm, nhưng thời điểm bán cho tôi ông T mới sử dụng 2 năm và bà D nói với tôi là ông T ko nộp tiền nhà nên bà ko cho thuê nữa nên bán cho tôi.

Bài viết cùng chủ đề

  • Các thủ tục cần thiết khi mua bán nhà ở
  • Quy định về Hợp đồng mua bán nhà ở
  • Mẫu Hợp đồng thuê nhà

Hỏi: Nhưng khi tôi mua nhà thi ông T ko chịu bàn giao nhà, mà giấy chứng nhận thì đang chờ Ủy ban nhân dân quận cấp lại và nộp thuế. Vậy cho tôi hỏi nêu bây giờ tôi nộp đơn báo chính quyền thì việc làm sổ đỏ có ảnh hưởng gì không? Và theo quy định pháp luật việc này bên nào phải chịu trách nhiệm?

Trả lời: Cảm ơn anh/chị đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty, trường hợp của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:

Trong tình huống của anh/chị, có các trường hợp sau có thể xảy ra:

Thứ nhất, trong hợp đồng thuê nhà giữa bà D và ông T có điều khoản quy định về việc ông T nộp tiền nhà chậm trong thời gian quy định thì hợp đồng thuê nhà bị hủy bỏ và thực tế ông T đã vượt quá thời gian quy định đó. Như vậy, anh/chị hoàn toàn có thể yêu cầu ông T thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng thuê nhà đã kí giữa hai bên. Trong trường hợp ông T cố tình không chịu bàn giao nhà, anh/chị có thể khởi kiện Tòa án về vấn đề này. Trong trường hợp này, ông T là người phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Thứ hai, trong hợp đồng thuê nhà giữa bà D và ông T không có điều khoản như đã nêu trên thì theo Khoản 2 Điều 133 Luật Nhà ở 2014 quy định:

Trường hợp chủ sở hữu nhà ở chuyển quyền sở hữu nhà ở đang cho thuê cho người khác mà thời hạn thuê nhà ở vẫn còn thì bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê đến hết hạn hợp đồng; chủ sở hữu nhà ở mới có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà ở đã ký kết trước đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, trong trường hợp hợp đồng thuê nhà ở vẫn còn hiệu lực giữa bà D và ông T thì khi được cấp Giấy chứng nhận, anh vẫn phải cho ông T thuê nhà theo hợp đồng đến hết thời hạn, trừ trường hợp có sự vi phạm hợp đồng dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ hoặc hợp đồng thuê nhà đó không đúng quy định của pháp luật, hay hai bên có thỏa thuận khác. Trong trường hợp này, bà D là người phải chịu trách nhiệm do đã thông báo sai về tình trạng ngôi nhà.

Thứ ba, bà D bán nhà cho anh/chị nhưng đã không thông báo trước cho ông T theo Khoản 1 Điều 127 Luật Nhà ở 2014:

Trường hợp chủ sở hữu bán nhà ở đang cho thuê thì phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê nhà ở biết về việc bán và các điều kiện bán nhà ở; bên thuê nhà ở được quyền ưu tiên mua nếu đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê, trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bên thuê nhà ở nhận được thông báo mà không mua thì chủ sở hữu nhà ở được quyền bán nhà ở đó cho người khác, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn.

Lỗi trong trường hợp này thuộc về bà D vì đã không thông báo cho ông T về việc bán nhà theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi ông T biết về việc bà D bán nhà mà có ý định mua thì ông D sẽ được ưu tiên mua lại ngôi nhà này so với anh/chị. Bà D phải trả lại số tiền đã nhận từ anh/chị và đền bù hợp đồng. Nếu ông D không có ý định mua hoặc sau thời hạn 30 ngày mà không mua thì hợp đồng giữa anh/chị và bà D là hợp pháp. Anh/chị có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà theo quy định của pháp luật trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa hai bên.

Trân trọng!

Mua bán đất qua người thứ ba được ủy quyền

Mua bán đất qua người thứ ba được ủy quyền

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 90
Hiện nay bố mẹ em đang định mua một mảnh đất. Giao dịch thực hiện qua một người thứ ba.

Bài viết cùng chủ đề

  • Ủy quyền ký kết hợp đồng thuê đất
  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu xử lý ra sao?
  • Mẫu Hợp đồng ủy quyền

​Hỏi: Họ nói với bố mẹ em là sẽ làm hợp đồng ủy quyền của người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ (người thứ 3) để làm thủ tục sang tên. Em xin hỏi: Khi làm hợp đồng chuyển nhượng thì bên bán sẽ do ai ký tên (Người có tên trên giấy chứng nhận hay là Bên thứ 3 được ủy quyền). Quy định cụ thể thế nào? Rất mong nhận được sự giải đáp của Luật sư.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 581 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Đồng thời theo Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ của bên được ủy quyền:

Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó.

Như vậy, người thứ ba sau khi được bên bán đất ủy quyền một cách hợp pháp thì sẽ thực hiện toàn bộ công việc được ủy quyền như chính người ủy quyền bao gồm cả việc ký giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Bạn cần chú ý về vấn đề ủy quyền này. Theo Khoản 1 Điều 18 Nghị định 04/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 01 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật công chứng:

Việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng ủy quyền. Khi công chứng các hợp đồng ủy quyền liên quan đến bất động sản, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đó cho các bên tham gia.

Như vậy, hợp đồng ủy quyền giữa bên bán và bên thứ ba phải được công chứng tại phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng.

Trân trọng!

Tư vấn Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2016

Tư vấn Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2016

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 91
Câu hỏi đề nghị tư vấn: Chào luật sư, Tôi muốn hỏi về nghĩa vụ quân sư:Năm nay, tôi 25 tuổi, hiện đang công tác tại một công ty ở tp.hồ chí minh.Chiều cao: 1,6m Cân nặng: 60 kgsCận thị: trên 3DTôi đã khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự một lần năm 2014.=> KHÔNG ĐẠT. Hiện tại tôi có nhận được giấy gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự. Vì tôi đang làm việc ở xa quê nên tôi không về khám được. Không về khám sức khỏe có bị phạt không?

Bài viết cùng chủ đề

  • Thời hạn nộp đơn xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự
  • Hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2015
  • Luật nghĩa vụ quân sự số 78/2015/QH13
Vì vậy, luật sư cho tôi hỏi, tôi cần những giấy từ gì để tôi không khám sức khỏe theo giấy gọi.Chân thành cảm ơn luật sư

Trả lời tư vấn: Chào anh/chị! Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn một số trường hợp tương tự thông qua một hoặc một số bài viết cụ thể sau đây:

https://luatminhgia.com.vn/hoi-dap-dan-su/kham-suc-khoe-va-chi-tieu-trung-tuyen-nghia-vu-quan-su.aspx​

https://luatminhgia.com.vn/hoi-dap-dan-su/tu-van-xu-ly-hanh-vi-tron-tranh-nghia-vu-quan-su.aspx

Anh/chị tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình!

Ngoài ra, Anh/chị có thể tham khảo thêm qua một số văn bản pháp luật sau đây có quy định và hướng dẫn đối với trường hợp của anh chị:

-  Luật Nghĩa vụ quân sự 2015;

- Thông tư liên tịch 36/2011/TTLT-BYT-BQP Hướng dẫn việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;

- Nghị định 120/2013 Quy định xử phạt trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu.

- Thông tư 140/2015/TT-BQP Quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ;

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hộ trợ pháp lý khác Anh/chị vui lòng liên hệ bộ phận luật sư trực tuyến của chúng tôi để được giải đáp: ( Tổng đài luật sư trực tuyến 1900.6169 )

Trân trọng !

Tư vấn về trường hợp miễn, giảm học phí đối với con thương binh

Tư vấn về trường hợp miễn, giảm học phí đối với con thương binh

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 88
Em là con thương binh 3/4. Năm 2014 em có theo học hệ trung cấp trường Cao Đẳng Nghề X. Hai học kỳ đầu trường bắt em phải nộp hơn 5 triệu đồng tiền học phí (em thuộc diện miễn học phí).

Bài viết cùng chủ đề

  • Trợ cấp một lần sau khi tốt nghiệp đối với con thương binh hạng 3/4
  • Chế độ ưu đãi trong giáo dục dành cho con thương binh
  • Chế độ miễn giảm học phí đối với con em thuộc chế chế độ chính sách

Đầu năm 2015 em có làm thủ tục yêu cầu chi trả lại tiền học phí cho mình nhưng trường Cao Đẳng Nghề số 5 từ chối chi trả và lấy lý do là trường đã chuyển sang hình thức hoạt động tự chủ kinh tế (tự thu tự chi) không được hưởng kinh phí từ nhà nước nên không có kinh phí trả lại số tiền học phí đã thu cho em. Trường có xác nhận cho em và nói em về phòng LĐTBXH huyện Duy Xuyên sẽ chi trả lại cho em. Nhưng khi về huyện, huyện cũng từ chối chi trả lấy lí do là trường em theo học thuộc trường công lập nên trường phải tự chi trả tiền học phí lại cho em, huyện chỉ chi trả khối trường ngoài công lập. Em đã ra trường rồi lại về huyện rất nhiều lần nhưng không bên nào chịu giải quyết. Vậy nhờ đoàn luật sư trả lời giúp em bên nào sẽ là người chi trả lại số tiền học phí đó cho em ạ. Và nhờ đoàn luật sư tư vấn giúp em thủ tục em phải đi đâu để lấy lại số tiền học phí trên ạ.

Trả lời. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia. Trường hợp này chúng tôi tư vấn cho bạn như sau.

Khoản 2 Điều 62 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định về Chính sách đối với người học như sau:

“2. Người học được Nhà nước miễn học phí trong các trường hợp sau đây:

a) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;

b) Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp;

c) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương quy định; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.”

Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH quy định về Đối tượng được miễn học phí như sau:

“1. Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Cụ thể:

a) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh;

b) Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.”

Điều 11 Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH quy định về Phương thức chi trả tiền miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập đối với người học ở các cơ sở giáo dục ngoài công lập; cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học thuộc doanh nghiệp nhà nước như sau:

“…………………………………………………………………...

3. Phòng lao động - thương binh và xã hội chịu trách nhiệm chi trả, quyết toán kinh phí cấp bù học phí trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Trường hợp học sinh, sinh viên bị kỷ luật ngừng học hoặc buộc thôi học thì cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học nơi học sinh, sinh viên đang học gửi thông báo để phòng lao động - thương binh và xã hội dừng thực hiện chi trả. Khi học sinh, sinh viên được nhập học lại sau khi hết thời hạn kỷ luật, theo xác nhận của cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học thì phòng lao động - thương binh và xã hội tiếp tục thực hiện chi trả. Thời gian học lưu ban, học lại, ngừng học, học bổ sung sẽ không được tính để chi trả tiền cấp bù miễn, giảm học phí.

4. Kinh phí cấp bù tiền miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập được cấp đủ trong 9 tháng/năm học (đối với học sinh mầm non và phổ thông), 10 tháng/năm học (đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học) và thực hiện 2 lần trong năm: Lần 1 chi trả đủ 4 tháng (đối với học sinh mầm non và phổ thông), 5 tháng (đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học) vào tháng 10 hoặc tháng 11; Lần 2 chi trả đủ 5 tháng vào tháng 3 hoặc tháng 4.

5. Trường hợp cha mẹ (hoặc người giám hộ) trẻ em học mẫu giáo, học sinh phổ thông, học sinh, sinh viên chưa nhận tiền cấp bù học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo thời hạn quy định thì được truy lĩnh trong kỳ chi trả tiếp theo.”

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn là con thương binh 3/4 và bạn đang theo học tại trường Cao đẳng Nghề X. Căn cứ vào các quy định trên thì bạn thuộc trường hợp được miễn học phí. Và  Phòng Lao động - thương binh và xã hội chịu trách nhiệm chi trả, quyết toán kinh phí cấp bù học phí trực tiếp bằng tiền mặt cho bạn.

Vì vậy, bạn làm hồ sơ xin truy lĩnh số tiền học phí chưa được chi trả đó và nộp tại Phòng lao động thương binh và xã hội để được truy lĩnh.

Hồ sơ gồm:

-Đơn xin truy lĩnh tiền học phí.

-Chứng minh thư nhân dân.

-Các giấy tờ chứng minh bạn thuộc diện được miễn, giảm học phí.

-Giấy xác nhận của trường về việc bạn đã theo học tại trường.

-Hóa đơn học phí từng kỳ học.

-Sổ hộ khẩu.

Trân trọng!

Tư vấn về thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chia thừa kế

Tư vấn về thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chia thừa kế

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 97
Luật sư tư vấn về thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chia thừa kế

Bài viết cùng chủ đề

  • Trường hợp chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất
  • Tư vấn về chia di sản thừa kế là bất động sản theo pháp luật
  • Tư vấn về thủ tục sang tên sổ đỏ

Nội dung tư vấn:

Xin chào Công Ty Luật Minh Gia. Em muốn xin tư vấn từ Công ty một trường hợp như sau :Gia đình em gồm có bà nội em, mẹ đẻ em (bố em đã mất) em và em trai em (Hiện tại em và em trai đều có gia đình riêng và có con cái).Ông Nội (chồng bà nội) em đã mất năm 1975, mảnh đất hiện đang đứng tên bà em trên sổ đỏ là tài sản do tổ tiên để lại để lại cho ông bà nội em. Ông bà nội em có hai người con 1 người con trai là bố em (đã mất) và một người con gái đã có gia đình riêng. Ngôi nhà và mảnh đất gia đình em hiện tại do bà nội em đang đứng tên trên sổ đỏ, giờ bà em già yểu bà muốn sang tên sổ đỏ cho e vậy các anh (chị) cho em hỏi:

1. Thủ tục sang tên sổ đỏ của bà nội em chuyển cho em như thế nào?

2. Khi làm thủ tục sang tên, có cần chữ ký xác nhận của cô là con của bà nội em hay không? ( Ông bà nội em có hai người con 1 người con trai là bố em (đã mất) và một người con gái đã có gia đình riêng,bà nội em đang ở cùng với gia đình em, còn ông nội em thì đã mất từ lâu, sổ đỏ nhà đất thì do 1 mình bà nội em đứng tên).

3. Mảnh đất nói trên cô của em có quyền tranh chấp hay không?

4. Nếu chia mảnh đất trên theo sự thừa kế (gia đình nhà em và cô em) của pháp luật thì chia như thế nào?

Mong sớm nhận được thư trả lời của các anh/ chị Luật sư Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi, công ty xin tư vấn trường hợp này của bạn như sau:

Thứ nhất, về thủ tục sang tên sổ đỏ.

Về vấn đề này, chúng tôi đã trình bày rõ trong bài viết sau: Thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cha mẹ cho con. Bạn có thể đọc để tham khảo cho trường hợp của mình.


Thứ hai, khi làm thủ tục sang tên, có cần chữ ký xác nhận của cô bạn không?

Trong trường hợp của bạn, do bạn không nói rõ mảnh đất này là tài sản riêng của bà bạn hay là tài sản chung của cả hai ông bà nên chúng tôi sẽ chia ra làm hai trường hợp.


Trường hợp 1: mảnh đất này là tài sản riêng của bà bạn thì việc chuyển nhượng sổ đỏ là theo hợp đồng tặng cho giữa bà bạn và bạn nên không cần chữ ký xác nhận của cô bạn.

Trường hợp 2: mảnh đất này là tài sản chung của cả hai ông bà thì cô bạn sẽ được chia di sản thừa kế theo pháp luật phần đất của ông bạn. Ông bà bạn có 2 người con là bố bạn và cô bạn. Theo đó cô bạn sẽ được hưởng thừa kế chia theo pháp luật là 1/6 mảnh đất. Trong trường hợp này, nếu muốn sang tên toàn bộ diện tích đất thì cũng phải có hợp đồng tặng cho giữa cô bạn với bạn.

Thứ ba, mảnh đất nói trên cô bạn có quyền tranh chấp hay không?

Như đã phân tích ở trên, nếu mảnh đất là tài sản chung của ông bà bạn, thì khi ông bạn mất cô bạn sẽ được hưởng 1 phần khi chia thừa kế theo pháp luật. Do đó cô bạn sẽ có quyền tranh chấp phần đất này.

Thứ tư, về việc phân chia thừa kế theo pháp luật.

Nếu mảnh đất là tài sản chung của ông bà bạn thì khi ông bạn mất thì mảnh đất đấy sẽ được chia đôi để làm di sản thừa kế của ông bạn.

Người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005:

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Như vậy, những người thừa kế của ông bạn bao gồm: bà bạn, bố bạn và cô bạn. Theo đó, mỗi người sẽ được 1/3 diện tích đất của ông bạn. Như vậy phần diện tích mà cô bạn được hưởng là 1/6 tổng diện tích mảnh đất của ông bà bạn; phần diện tích của bố bạn cũng là 1/6 tổng diện tích mảnh đất của ông bà bạn và diện tích đất của bà bạn sẽ là 4/6=2/3 tổng diện tích.

Bạn không nói rõ bố bạn mất khi nào nên nếu bố bạn mất trước hoặc cùng thời điểm với ông bạn thì 1/6 diện tích của bố bạn sẽ được chia đôi cho 2 anh em bạn theo quy định tại Điều 677.

“Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Trân trọng.

Đòi lại quyền sử dụng đất và trình tự, thủ tục

Đòi lại quyền sử dụng đất và trình tự, thủ tục

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 87
Cách đây vài năm, vì sức khỏe không tốt, đi lại không được thuận tiện nên bà ngoại em đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho Cậu Út (vợ chồng Cậu Út ở chung bà ngoại) để Cậu sử dụng nhằm mục đích phụng dưỡng tuổi già, chăm sóc cho bà ngoại. Thủ tục chuyển nhượng thực hiện đúng quy định pháp luật

Bài viết cùng chủ đề

  • Đã thực hiện hợp đồng tặng, cho QSDĐ chưa thực hiện thủ tục sang tên, nay có đòi lại được không?
  • Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai
  • Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó
Nội dung tư vấn:

Cách đây vài năm, vì sức khỏe không tốt, đi lại không được thuận tiện nên bà ngoại em đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho Cậu Út (vợ chồng Cậu Út ở chung bà ngoại) để Cậu sử dụng nhằm mục đích phụng dưỡng tuổi già, chăm sóc cho bà ngoại. Thủ tục chuyển nhượng thực hiện đúng quy định pháp luật. Nhưng hiện tại, vợ chồng Cậu Út không làm đúng như những gì đã hứa, Cậu thất bại trong làm ăn, không lo mẹ già, mợ Út thì không chăm sóc mẹ chồng, hay la chửi, ngược đãi, không làm đúng bổn phận nàng dâu. Nay bà ngoại em muốn lấy lại quyền sử dụng đất, xin hỏi Luật sư được không? Và thủ tục thực hiện như thế nào? Chân thành cảm ơn.


Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia chúng tôi. Trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Về đòi lại quyền sử dụng đất:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì giữa bà ngoại và cậu Út bạn có thỏa thuận về việc chuyển quyền sử dụng đất. Cách thức thực hiện là chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Và việc chuyển nhượng này được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Điều 697 và Điều 722 Bộ Luật Dân sự 2005 có quy định:

Điều 697.Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.

 Điều 722. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.”

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi hợp đồng chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất giữa các bên đã có hiệu lực pháp luật, bên nhận chuyển nhượng hoặc tặng cho tài sản đã hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên theo quy định thì bên chuyển nhượng hay tặng cho không có quyền đòi lại quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, bà ngoại của bạn vẫn có thể đòi lại quyền sử dụng đất trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa bà ngoại và cậu bạn có đủ hai yêu cầu sau:

Thứ nhất, hợp đồng giữa bà ngoại và cậu bạn là hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Thứ hai, điều kiện ghi trong hợp đồng là cậu bạn phải có nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc bà ngoại bạn. Các điều kiện quy định trong hợp đồng này không được trái quy định của pháp luật và trái đạo đức xã hội.

Tại Điều 470 BLDS 2005 về tặng cho tài sản có điều kiện quy định:

“Điều 470. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

2. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”

Do đó,  khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cậu bạn, nếu bà ngoại bạn đã lập hợp đồng tặng cho có điều kiện thì sau khi nhận quyền sử dụng đất từ bà ngoại, cậu bạn không làm đúng như những gì đã hứa là chăm sóc, phụng dưỡng mẹ đẻ, mợ bạn thì không chăm sóc mẹ chồng, hay la chửi, ngược đãi, không làm đúng bổn phận nàng dâu. Thì bà ngoại bạn hoàn toàn có quyền đòi lại quyền sử dụng đất đã chuyển giao cho cậu bạn.

Trường hợp 2: Bà ngoại bạn chứng minh được hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho cậu bạn là hợp đồng vô hiệu.

Điều 127 BLDS 2005 quy định giao dịch dân sự vô hiệu khi không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 BLDS:

Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có  hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Mặt khác, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Do đó, nếu chứng minh được hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất từ bà ngoại sang cho cậu bạn vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự thì bà ngoại bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Nếu hợp đồng vô hiệu, cậu bạn phải trả lại cho bà ngoại bạn quyền sử dụng đất đã nhận.

Như vậy, nếu như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà ngoại và cậu bạn thuộc một trong hai trường hợp nêu trên thì bà ngoại bạn có quyền đòi lại quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng.

Về trình tự, thủ tục:

Luật Đất đai 2013 quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải cơ sở.

“ Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.


Như vậy, đối với tranh chấp giữa bà và cậu bạn, trước tiên hai bên có thể tự hòa giải, nếu không hòa giải được thì bà bạn cần gửi đơn yêu cầu đề nghị hòa giải đến UBND cấp xã ( phường) nơi có đất tranh chấp. Trong thời hạn 45 ngày, chủ tịch UBND có trách nhiệm tổ chức hòa giải cho các bên.

Trường hợp hòa giải thành , bà và cậu bạn thống nhất được việc trả lại quyền sử dụng đất cho bà bạn thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và môi trường. Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường sẽ trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi chủ sử dụng đất và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà ngoại bạn.

Trường hợp hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải không thành, có chữ ký của các bên và xác nhận của địa phương về hòa giải không thành.

Theo Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai quy định thì: “1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”.

Trường hợp của bà bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sau khi hòa giải ở địa phương không thành, bà bạn có thể nộp đơn trực tiếp đến Tòa án để yêu cầu giải quyết.

Tư vấn về hưởng bảo hiểm y tế cho hộ nghèo

Tư vấn về hưởng bảo hiểm y tế cho hộ nghèo

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 64
Em chào công ty luật Minh Gia. Em có băn khoăn này muốn được sáng tỏ mà em đã tìm hiểu rất nhiều nhưng vẫn chưa nắm rõ xin công ty luật Minh Gia làm sáng tỏ giúp em. Em có hộ khẩu thường trú tại xã Cốc Lầu, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (là vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn), em có bảo hiểm hộ nghèo năm 2016 cũng ở địa chỉ đó.

Bài viết cùng chủ đề

  • Hộ nghèo hưởng bảo hiểm y tế như thế nào?
  • Người thuộc diện hộ nghèo và người dân tộc khám tại tuyến trung ương có được hưởng 100% phí BHYT?
  • Mắc bệnh hiểm nghèo có được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần không?
 Bảo hiểm hộ nghèo của em có từ những năm trước đó rất lâu, vì gia đình em liên tục từ trước đến giờ nằm trong danh sách hộ nghèo của xã (Chắc không dưới 10 năm). Nay em đang mang thai 3 ở tuần thứ 13, hiện tại em đang làm việc tại Hà Nội, nhưng hộ khẩu và nơi đăng kí khám chữa bệnh vẫn ở Lào Cai. Em muốn được hưởng bảo hiểm y tế trong trường hợp em nhập viện sớm hơn bình thường để theo dõi và thực hiện sinh mổ vì cơ thể em rất yếu. Để được hưởng mức bảo hiểm y tế cao nhất có thể thì em cần phải làm gì và cần phải chuẩn bị những loại giấy tờ gì. Trong trường hợp em muốn nhập viện sớm hơn để các bác sỹ theo dõi nhằm giảm bớt các nguy cơ đến mẹ và thai nhi ( không phải trường hợp bác sỹ chỉ định nhập viện cấp cứu) thì để hưởng mức bảo hiểm cao nhất em cần phải làm gì và em phải chuẩn bị những thủ tục giấy tờ gì? Em xin chân thành cảm ơn công ty luật Minh Gia.

Trả lời tư vấn

Cảm ơn bạn đã gửi nội dung tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế do ngân sách nhà nước đóng được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế 2014: “Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo

Do bạn thuộc nhóm đối tượng đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 22 về mức hưởng bảo hiểm y tế bạn có thể được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Cũng theo quy định tại Khoản 5 Điều 22 này: “Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương và có mức hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Như vậy, theo các quy định trên thì bạn thuộc nhóm đối tượng đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên khi bạn đi khám bênh, chữa bệnh trái tuyến vẫn được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với tuyến huyện, điều trị nội trú với tuyến tỉnh, tuyến trung ương như là đúng tuyến mà không cần giấy chuyển tuyến khám chữa bệnh.

Để được hưởng bảo hiểm y tế khi nằm viện bạn cần xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh, trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì khi xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ chứng minh nhân thân của bạn.

Trân trọng!

Tư vấn về đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tư vấn về đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 85
Chào luật sư, mong luật sư hướng dẫn cho tôi Thủ tục hồ sơ sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có nhà ở) Từ mẹ đẻ cho con trai trong trường hợp như sau: Bố tôi bỏ mẹ tôi trước năm 1993 đến nay không rõ tung tích, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay chỉ có tên mẹ tôi. Tôi xinh kính cảm ơn Luật sư!

Bài viết cùng chủ đề

  • Tư vấn về thủ tục sang tên sổ đỏ chuyển nhượng và tặng cho đất đai
  • Tư vấn về tải sản chung, tài sản riêng của vợ chồng.
  • Bố mẹ cho tặng quyền sử dụng đất có được miễn thuế không?

Trả lời tư vấn. Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, trường hợp này chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:
 
Trường hợp này cần phải xác minh xem thửa đất trên thuộc quyền sử dụng riêng của mẹ bạn hay là tài sản chung của bố mẹ bạn. Nếu thuộc quyền sử dụng riêng của mẹ bạn thì trên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chỉ cần mẹ bạn và bạn ký tên.

Về thủ tục đăng ký sang tên người sử dụng đất, chúng tôi đã tư vấn tại các bài viết khác, bạn có thể tham khảo tại:

Trình tự, thủ tục tặng cho con quyền sử dụng đất

Việc xác định tài sản riêng, tài sản chung của vợ chồng theo được quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Do bạn không nêu nguồn gốc của thửa đất trên nên chúng tôi không xác định cụ thể cho bạn được, bạn có thể căn cứ vào quy định trên để chứng minh đây là tài sản riêng của mẹ bạn.
 
Trân trọng!

Điều kiện và thủ tục nhận nuôi con nuôi

Điều kiện và thủ tục nhận nuôi con nuôi

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 66
Luật sư tư vấn về trường hợp mẹ đồng ý nhưng cha không đồng ý việc cho nhận nuôi con nuôi

Bài viết cùng chủ đề

  • Thủ tục, hồ sơ nhận nuôi con nuôi trong nước
  • Mẫu cam kết thông báo định kỳ về nuôi con nuôi
  • Tư vấn thủ tục và điều kiện nhận nuôi con nuôi

Nội dung tư vấn:

Kính chào quý công ty luật. Thưa quý luật sư tôi có một vấn đề muốn được tư vấn cụ thể sau; hiện giờ tôi đang nuôi 2 đứa con nhỏ 1 đứa học mẫu giáo, 1 đứa vưa được 5 tháng tuổi, tôi và chồng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đã bỏ nhà ra đi một mình tôi vất vả nuôi 2 đứa con ăn học. Trước đây vì mâu thuẫn nên chồng tôi rêu rao khắp nơi là không lấy tôi nữa và đã nộp đơn ly hôn lên UBND xã, xã đã tổ chức buổi hòa giải đoàn tụ nhưng không thành và bảo chồng tôi nộp đơn lên huyện, đến giờ tôi vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Nay do điều kiện không thể nuôi nẫng được nữa tôi muốn cho 1 đứa nhỏ người khác nuôi thì tôi không rõ thủ tục như thế nào, họ bảo phải gọi chồng tôi về kí tên vào tờ giấy nào đấy, tôi đã gọi nhưng chồng tôi nói là không về. Vậy thưa quý luật tôi muốn hỏi là: - để cho người khác nuôi con tôi và họ cần làm những giấy tờ gì ? - nếu cần chữ kí của chồng tôi mà tôi không chịu, chồng tôi làm như vậy chỉ muốn gây khó dễ cho tôi vì chồng tôi cũng rêu rao là "đứa con nhỏ này không phải con của tôi" vậy tôi phải làm thế nào ?( trong giấy khai sinh vẫn ghi tên bố là chồng tôi vì chúng tôi chưa hẳn là ly hôn). Rất mong nhận được sự vấn đáp sớm nhất của quý luật, Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia chúng tôi, công ty xin tư vấn trường hợp này của bạn như sau:

Tại Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có quy định:

“Điều 21. Sự đồng ý cho làm con nuôi

1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

2. Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.

3. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.”

Như vậy, việc cho nhận con nuôi phải được sự đồng ý của cả cha và mẹ của đứa trẻ. Sự đồng ý này phải hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không bị đe dọa, mua chuộc, vụ lợi…

Theo đó, trường hợp của bạn nến không có sự đồng ý của chồng bạn thì bạn không được quyền cho nhận con nuôi cho người khác. Nếu muốn thực hiện việc cho nhận con nuôi thì bạn phải thỏa thuận với chồng bạn để có được sự đồng ý của cả cha và mẹ đứa trẻ.

Trong trường hợp này, với lý do không đủ điều kiện kinh tế để nuôi con, thì khi ly hôn, Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện của mỗi bên để phân chia quyền nuôi con cho vợ chồng bạn. Nuôi con cũng chính là nghĩa vụ của chồng bạn, nên nếu ly hôn thì chồng bạn sẽ phải chăm sóc, nuôi dưỡng con. Nếu chồng bạn từ chối nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp có sự đồng ý của cả hai vợ chồng bạn thì người nhận nuôi phải làm những thủ tục sau:

Hồ sơ của người nhậnn uôi con quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010:

“Điều 17. Hồ sơ của người nhận con nuôi

Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.”

Việc đăng kí việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 22:

“Điều 22. Đăng ký việc nuôi con nuôi

1. Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.

2. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.

3. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.”

Trân trọng.

Đăng ký thường trú cho con và chuyển hộ khẩu trong thành phố Hà Nội

Đăng ký thường trú cho con và chuyển hộ khẩu trong thành phố Hà Nội

Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 81
Gia đình tôi có hộ khẩu tại quận Hoàng Mai, hiện gia đình tôi đã bán nhà và chuyển đến sống tại quận Đống Đa được 7 tháng. Gia đình tôi thuê lâu dài 1 căn hộ (có hợp đồng thuê nhà) ở Đống Đa. Tôi mới sinh con trong thời gian ở quận Đống Đa. Vậy quý công ty cho tôi hỏi:

Bài viết cùng chủ đề

  • Chuyển hộ khẩu sang quận khác trong thành phố Hà Nội
  • Thuê nhà có được đăng ký hộ khẩu thường trú không?
  • Hỏi về thủ tục làm đăng ký thường trú cho con
Tôi có nhập khẩu cho con tôi vào sổ hộ khẩu cũ theo quận Hoàng Mai được không? Có quy định thời hạn bao lâu sau khi sinh con phải nhập khẩu cho con không?Gia đình tôi muốn chuyển khẩu sang quận Đống Đa có được không? Thủ tục chuyển như nào?

Trả Lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, Con bạn được đăng ký thường trú vào sổ hộ khẩu cũ tại quận Hoàng Mai.

Căn cứ theo Điều 22 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013. Xóa đăng ký thường trú:

“1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú:

a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;

b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;

c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;

d) Ra nước ngoài để định cư;

đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.

2. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú thì cũng có thẩm quyền xoá đăng ký thường trú.

3. Thủ tục cụ thể xoá đăng ký thường trú và điều chỉnh hồ sơ, tài liệu, sổ sách có liên quan do Bộ trưởng Bộ Công an quy định”.

Như vậy, gia đình bạn không thuộc các trường hợp xóa đăng ký thường trú. Nên nơi đăng ký thường trú của gia đình bạn vẫn ở nhà cũ tại quận Hoàng Mai. Vì vậy, con bạn khi sinh vẫn được nhập vào sổ hộ khẩu cũ tại quận Hoàng Mai.

Thứ hai, Sau bao lâu phải đăng ký nhập hộ khẩu cho con mới sinh?

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch 2014 thì: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em”.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 6 Nghị định 107/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật cư trú thì: “Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày trẻ em được đăng ký khai sinh, cha, mẹ hoặc đại diện hộ gia đình, người nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú cho trẻ em đó”.

Như vậy, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày con bạn được cấp giấy khai sinh thì gia đình bạn phải có trách nhiê đăng ký thường trú cho con bạn. Nếu vi phạm thời hạn thì bạn bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng (theo Điểm a Khoản 1 Điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP)

Hồ sơ xin đăng ký thường trú cho con bạn gồm có:

- Giấy khai sinh của con bạn (1 bản chính và 1 bản photo)

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của vợ chồng bạn

- Sổ hộ khẩu gia đình (bản chính)

- Phiếu thay đổi hộ khẩu (theo mẫu)

Trong thời hạn tối đa 10 ngày bạn sẽ nhận lại sổ hộ khẩu.

Thứ ba, Chuyển hộ khẩu từ quận Hoàng Mai sang quận Đống Đa?

Điều kiện để được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương được quy định tại Điều 20 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013:

“Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương:

1. Có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên;

2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;

b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc về ở với anh, chị, em ruột;

c) Người khuyết tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

đ) Người thành niên độc thân về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột;

e) Ông bà nội, ngoại về ở với cháu ruột;

3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp;

4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình;

5. Trường hợp quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân, tổ chức thì phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố;

b) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân;

c) Được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản”.

Như vậy, Bạn chỉ được chuyển hộ khẩu thường trú sang quận Đống Đa nếu được chủ nhà cho bạn thuê nhà đồng ý bằng văn bản.

Căn cứ Điều 21 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 quy định về thủ tục đăng ký thường trú. Bạn cần chuẩn một bộ hồ sơ bao gồm:

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

- Bản khai nhân khẩu;

- Giấy chuyển hộ khẩu;

- Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp.

Bạn nộp hồ sơ này lên công an quận Đống Đa để được cấp sổ hộ khẩu mới. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, bạn sẽ được cấp sổ hộ khẩu.

Trân trọng!

Bố tặng cho quyền sử dụng đất cho các cô có cần sự đồng ý của mẹ và các con không?

Bố tặng cho quyền sử dụng đất cho các cô có cần sự đồng ý của mẹ và các con không?

Cập nhật cách đây khoảng 2 tiếng | Số lượt đọc: 62
Nội dung yêu cầu tư vấn: Xin chào Luật sư! Mong Luật sư tư vấn tôi thành thật biết ơn, sự việc như sau: Cha tôi hiện đứng tên bằng phán 8500m vuông nhà và đất vườn. Cha và mẹ tôi sống từ trước đến giờ nay đã 66 tuổi. Nhưng sau khi mẹ tôi bị tại nạn xe phải mổ bắt Inox nằm một chỗ 2 năm, năm nay bà lại bị tai biến nằm liệt cả một tay và một chân

Bài viết cùng chủ đề

  • Tư vấn tặng cho quyền sử dụng đất
  • Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không hợp pháp, xử lý thế nào?
  • Luật sư tư vấn về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Ba tôi lại nghe lời 2 cô ruột của tôi bỏ mẹ con tôi ra cất nhà riêng ở một mình vì sợ cực nhọc nếu sống chung, phải lo lắng cho mẹ tôi. Khi chúng tôi đang nuôi mẹ thì các cô ruột cất nhà riêng cho cha tôi. Chúng tôi hay biết sự việc nên đã ngăn cản, vì ba tôi bị bệnh tai biến giai đoạn hai đã khỏi - sợ bị tái phát. Nhưng ba tôi không nghe mà ngược lại nghe theo lời của các cô tôi ra ngoài rêu rao, nói xấu chúng tôi hắt hủi ông. Khi ở chung nhà chúng tôi lo ông rất chu đáo và tươm tất. Hiện tại cha và mẹ tôi có 5 người con: 3 trai và 2 con gái. Hai anh trai và chị gái đã có gia đình và mỗi người đều có 2 con, riêng tôi và em gái chưa có gia đình ở chung với mẹ. Cha tôi bảo sẽ sang nhượng toàn bộ tài sản cho cô ruột và cháu ( con của 2 người cô) mà không để lại cho vợ và con ruột của ông ấy. Vậy Luật sư cho hỏi: + Cô ruột tôi và con của các bà ấy có được hưởng tài sản mà ba tôi để lại không? Nếu không có sự đồng ý của mẹ và anh em của tôi. + Tài sản này nếu mẹ và các anh em tôi được hưởng thì sẽ hưởng như thế nào? + Nếu ba tôi muốn biếu, tặng cho hay bán đơn phương, một mình ông ấy có được không? + Nếu ông ấy đơn phương tự xin ly dị, mẹ tôi không đồng ý thì ông ấy được hưởng toàn bộ tài sản không? Rất mong sự giải đáp thắc mắc của Luật sư tôi thành thật biết ơn.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Bạn không trình bày 8500 m2 đất là thuộc sở hữu của bố bạn, của chung bố mẹ bạn hay được cấp cho hộ gia đình nên chúng tôi sẽ chia ra các trường hợp để bạn áp dụng vào trường hợp của mình:

Trường hợp 1: Nếu trong giấy CNQSDĐ ghi chủ sở hữu là: ông/bà sẽ chia làm 2 trường hợp :

+ Quyền sử dụng đất đó có trước thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân nhưng được tặng cho, thừa kế riêng ( trong trường hợp sau khi kết hôn bố bạn không nhập vào tài sản chung của vợ chồng ): thì quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bố bạn. Bố bạn có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất đó mà không cần hỏi ý kiến của mẹ bạn và các con.

+ Quyền sử dụng đất đó có trong thời kỳ hôn nhân: thì quyền sử dụng đất là tài sản chung của bố mẹ bạn theo điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.".

Như vậy, khi bố bạn tặng cho đất cho các cô và cháu thì phải được sự đồng ý của mẹ bạn, nếu không có sự đồng ý của mẹ mà vẫn tặng cho thì mẹ bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo điều 122 Bộ luật dân sự 2005 do nội dung giao dịch trái với quy định của pháp luật. 
 
Trường hợp 2: Nếu trong giấy CNQSDĐ ghi chủ sở hữu là: hộ gia đình ông/bà thì khi bố bạn thực hiện tặng cho quyền sử dụng đất cho các cô cần phải được sự đồng ý của cả gia đình bạn (bao gồm mẹ bạn và cả các anh chị em trong gia đình ), tất cả đều phải ký vào văn bản và công chứng tại phòng công chứng.

Theo quy định của BLDS 2005 tại điều 108, 109 quy định như sau:

"Điều 108. Tài sản chung của hộ gia đình

Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.

Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý."
 
Nếu không thuộc sở hữu của mình mà bố bạn đem tặng cho thì mẹ bạn và những người có tên trong Sổ hộ khẩu có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo điều 136 BLDS là 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

Trân trọng!