Đòi lại quyền sử dụng đất và trình tự, thủ tục
Cập nhật cách đây 2 ngày | Số lượt đọc: 87
Cách đây vài năm, vì sức khỏe không tốt, đi lại không được thuận tiện
nên bà ngoại em đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho Cậu Út (vợ
chồng Cậu Út ở chung bà ngoại) để Cậu sử dụng nhằm mục đích phụng dưỡng
tuổi già, chăm sóc cho bà ngoại. Thủ tục chuyển nhượng thực hiện đúng
quy định pháp luật
Bài viết cùng chủ đề
- Đã thực hiện hợp đồng tặng, cho QSDĐ chưa thực hiện thủ tục sang tên, nay có đòi lại được không?
- Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai
- Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó
Nội dung tư vấn:
Cách đây vài năm, vì sức khỏe không tốt, đi lại không được thuận tiện
nên bà ngoại em đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho Cậu Út (vợ
chồng Cậu Út ở chung bà ngoại) để Cậu sử dụng nhằm mục đích phụng dưỡng
tuổi già, chăm sóc cho bà ngoại. Thủ tục chuyển nhượng thực hiện đúng
quy định pháp luật. Nhưng hiện tại, vợ chồng Cậu Út không làm đúng như
những gì đã hứa, Cậu thất bại trong làm ăn, không lo mẹ già, mợ Út thì
không chăm sóc mẹ chồng, hay la chửi, ngược đãi, không làm đúng bổn phận
nàng dâu. Nay bà ngoại em muốn lấy lại quyền sử dụng đất, xin hỏi Luật
sư được không? Và thủ tục thực hiện như thế nào? Chân thành cảm ơn.
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia
chúng tôi. Trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:
Về đòi lại quyền sử dụng đất:
Theo như thông tin bạn cung cấp thì giữa bà ngoại và cậu Út bạn có thỏa
thuận về việc chuyển quyền sử dụng đất. Cách thức thực hiện là chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Và việc chuyển nhượng này được thực hiện đúng
theo quy định của pháp luật.
Điều 697 và Điều 722 Bộ Luật Dân sự 2005 có quy định:
“Điều 697.Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các
bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và
quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng
trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp
luật về đất đai.
Điều 722. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên,
theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà
không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định
của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.”
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi hợp đồng chuyển nhượng hoặc
tặng cho quyền sử dụng đất giữa các bên đã có hiệu lực pháp luật, bên
nhận chuyển nhượng hoặc tặng cho tài sản đã hoàn thành thủ tục đăng ký
sang tên theo quy định thì bên chuyển nhượng hay tặng cho không có quyền
đòi lại quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, bà ngoại của bạn vẫn có thể đòi lại quyền sử dụng đất trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa bà ngoại và cậu bạn có đủ hai yêu cầu sau:
Thứ nhất, hợp đồng giữa bà ngoại và cậu bạn là hợp đồng tặng cho có điều kiện.
Thứ hai, điều kiện ghi trong hợp đồng là cậu bạn phải có nghĩa vụ phụng
dưỡng, chăm sóc bà ngoại bạn. Các điều kiện quy định trong hợp đồng này
không được trái quy định của pháp luật và trái đạo đức xã hội.
Tại Điều 470 BLDS 2005 về tặng cho tài sản có điều kiện quy định:
“Điều 470. Tặng cho tài sản có điều kiện
1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc
nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho
không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
2. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu
bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài
sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã
thực hiện.
3. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên
được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản
và yêu cầu bồi thường thiệt hại”
Do đó, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cậu bạn, nếu bà ngoại
bạn đã lập hợp đồng tặng cho có điều kiện thì sau khi nhận quyền sử dụng
đất từ bà ngoại, cậu bạn không làm đúng như những gì đã hứa là chăm
sóc, phụng dưỡng mẹ đẻ, mợ bạn thì không chăm sóc mẹ chồng, hay la chửi,
ngược đãi, không làm đúng bổn phận nàng dâu. Thì bà ngoại bạn hoàn toàn
có quyền đòi lại quyền sử dụng đất đã chuyển giao cho cậu bạn.
Trường hợp 2: Bà ngoại bạn chứng minh được hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho cậu bạn là hợp đồng vô hiệu.
Điều 127 BLDS 2005 quy định giao dịch dân sự vô hiệu khi không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 BLDS:
Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.
Mặt khác, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là không làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời
điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại
tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn
trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài
sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của
pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Do đó, nếu chứng minh được hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất từ bà ngoại
sang cho cậu bạn vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng dân sự thì bà ngoại bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
vô hiệu. Nếu hợp đồng vô hiệu, cậu bạn phải trả lại cho bà ngoại bạn
quyền sử dụng đất đã nhận.
Như vậy, nếu như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà ngoại
và cậu bạn thuộc một trong hai trường hợp nêu trên thì bà ngoại bạn có
quyền đòi lại quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng.
Về trình tự, thủ tục:
Luật Đất đai 2013 quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải cơ sở.
“ Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì
gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa
giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức
thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và
các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục
hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong
thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết
tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên
và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân
dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về
ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa
giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp
đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở
Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy
ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa
đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất.”
Như vậy, đối với tranh chấp giữa bà và cậu bạn, trước tiên hai bên có
thể tự hòa giải, nếu không hòa giải được thì bà bạn cần gửi đơn yêu cầu
đề nghị hòa giải đến UBND cấp xã ( phường) nơi có đất tranh chấp. Trong
thời hạn 45 ngày, chủ tịch UBND có trách nhiệm tổ chức hòa giải cho các
bên.
Trường hợp hòa giải thành , bà và cậu bạn thống nhất được việc trả lại
quyền sử dụng đất cho bà bạn thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến
Phòng Tài nguyên và môi trường. Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường sẽ
trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi chủ
sử dụng đất và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà ngoại
bạn.
Trường hợp hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải không thành,
có chữ ký của các bên và xác nhận của địa phương về hòa giải không
thành.
Theo Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai quy định thì: “
1. Tranh chấp đất
đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ
quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với
đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”.
Trường hợp của bà bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sau khi hòa giải ở địa phương không thành, bà bạn có thể nộp đơn trực tiếp đến Tòa án để yêu cầu giải quyết.